Dây tết chèn về kho theo cuộn cân sẵn, nhưng thợ lắp lại cắt theo mét. Hai đơn vị đó chỉ quy đổi được khi biết tiết diện và tỉ trọng của đúng loại đang dùng: cùng cỡ 10×10mm, một mét sợi bông vàng nặng 128 gam còn một mét sợi aramid carbon nặng 165 gam, chênh gần 29%. Đặt thiếu thì phải dừng máy chờ hàng, đặt thừa thì cuộn dở nằm kho và hút ẩm.






Các con số dưới đây lấy từ phiếu kiểm lô MXD-110-20260720, kiểm ngày 11/08/2026, gồm năm phiếu riêng cho năm loại sợi. Bảng khối lượng được tính từ tỉ trọng trong phiếu chứ không lấy từ catalogue nhà sản xuất, nên nó khớp với chính lô hàng đang bán.
Chỉ tiêu đo được của năm loại dây tết chèn
Năm loại sợi trong lô khác nhau ở bốn chỗ quyết định: tỉ trọng, hệ số ma sát, dải nhiệt và dải pH. Tỉ trọng chi phối khối lượng đặt hàng. Hệ số ma sát chi phối nhiệt sinh ra ở mặt trục và do đó chi phối tuổi thọ của chính cái trục. Dải nhiệt và dải pH quyết định loại nào dùng được với môi chất nào.
| Chỉ tiêu | PTFE trắng | PTFE đen | Bông vàng | Aramid | Aramid carbon |
|---|---|---|---|---|---|
| Tỉ trọng (g/cm³) | 1,42 | 1,50 | 1,28 | 1,40 | 1,65 |
| Độ bền kéo (MPa) | 28,7 | 28,7 | — | — | — |
| Độ nén (%) | 28,2 | 22,5 | 23,0 | 21,0 | 18,0 |
| Độ hồi phục (%) | 41,3 | 54,5 | 26,0 | 46,0 | 36,0 |
| Hệ số ma sát | 0,18 | 0,11 | 0,22 | 0,13 | 0,08 |
| Nhiệt độ thấp nhất (°C) | −200 | −200 | −40 | −100 | −100 |
| Nhiệt độ cao nhất (°C) | +260 | +280 | +100 | +280 | +300 |
| Dải pH | 0–14 | 0–14 | 6–8 | 2–13 | 2–13 |
| Cỡ nhỏ nhất trong lô (mm) | 4×4 | 4×4 | 4×4 | 4×4 | 8×8 |
| Cỡ lớn nhất trong lô (mm) | 20×20 | 20×20 | 20×20 | 20×20 | 20×20 |
| Số phiếu kiểm | VT-20260811-337 | VT-20260811-342 | VT-20260811-343 | VT-20260811-344 | VT-20260811-345 |
Hai cột PTFE có cùng độ bền kéo 28,7 MPa nhưng khác nhau rõ ở độ hồi phục: 41,3% với sợi trắng và 54,5% với sợi đen. Độ hồi phục là phần chiều cao sợi lấy lại được sau khi thôi ép. Sợi hồi phục kém thì sau vài lần siết bù, vòng chèn mất khả năng bám và bắt đầu rò trở lại dù nắp ép đã siết hết hành trình. Bông vàng đứng cuối bảng ở chỉ tiêu này với 26,0%, và đó là lý do nó chỉ hợp với nước sạch áp thấp chứ không hợp với máy chạy liên tục.
Bảng tra khối lượng dây tết chèn theo cỡ
Sợi có tiết diện vuông cạnh a, nên một mét sợi chiếm thể tích đúng bằng a² centimet khối. Nhân với tỉ trọng ra khối lượng mỗi mét, tính bằng gam. Công thức gọn lại thành: khối lượng (g/m) bằng a (mm) bình phương nhân tỉ trọng (g/cm³). Cỡ 12×12mm bằng PTFE đen cho ra 144 × 1,50 = 216 g/m; một cân sợi đó dài khoảng 4,6 mét.
| Cỡ (mm) | PTFE trắng (g/m) | PTFE đen (g/m) | Bông vàng (g/m) | Aramid (g/m) | Aramid carbon (g/m) |
|---|---|---|---|---|---|
| 4×4 | 22,7 | 24,0 | 20,5 | 22,4 | — |
| 6×6 | 51,1 | 54,0 | 46,1 | — | — |
| 8×8 | 90,9 | 96,0 | 81,9 | 89,6 | 105,6 |
| 10×10 | 142,0 | 150,0 | 128,0 | 140,0 | 165,0 |
| 12×12 | 204,5 | 216,0 | 184,3 | 201,6 | 237,6 |
| 14×14 | 278,3 | 294,0 | 250,9 | 274,4 | 323,4 |
| 16×16 | 363,5 | 384,0 | 327,7 | 358,4 | 422,4 |
| 18×18 | 460,1 | 486,0 | 414,7 | 453,6 | 534,6 |
| 20×20 | 568,0 | 600,0 | 512,0 | 560,0 | 660,0 |
Dấu gạch ngang là cỡ không có trong lô này chứ không phải cỡ không tồn tại: aramid trong phiếu kiểm nhảy từ 4×4 lên thẳng 8×8, còn aramid carbon bắt đầu từ 8×8. Hai cỡ 6×6 và 4×4 của hai loại đó phải đặt theo lô sau.
Chiều dài mỗi cân là nghịch đảo của cột tương ứng, nhân một nghìn. Cỡ 8×8 bằng bông vàng cho 12,2 mét mỗi cân, trong khi cỡ 20×20 bằng aramid carbon chỉ còn 1,5 mét mỗi cân. Chênh lệch đó giải thích vì sao một đơn hàng tính theo cân nghe thì giống nhau nhưng lượng dùng thực tế lệch nhau cả chục lần.
Tính lượng dây tết chèn cần cho một hộp chèn
Mỗi vòng chèn quấn quanh trục nên chu vi của nó tính theo đường tâm sợi, tức là đường kính trục cộng thêm đúng một lần cạnh sợi. Chiều dài một vòng bằng 3,1416 nhân với tổng đó. Trục 50mm dùng sợi 10×10mm cho ra chu vi 188,5mm, làm tròn lên 190mm để còn chỗ cắt vát mối nối.
| Đường kính trục (mm) | Cỡ sợi (mm) | Chiều dài một vòng (mm) | Sáu vòng, một hộp (m) | Khối lượng nếu dùng PTFE trắng (g) |
|---|---|---|---|---|
| 20 | 6×6 | 81,7 | 0,49 | 25 |
| 30 | 8×8 | 119,4 | 0,72 | 65 |
| 40 | 8×8 | 150,8 | 0,90 | 82 |
| 50 | 10×10 | 188,5 | 1,13 | 161 |
| 60 | 10×10 | 219,9 | 1,32 | 187 |
| 75 | 12×12 | 273,3 | 1,64 | 335 |
| 90 | 14×14 | 326,7 | 1,96 | 545 |
| 110 | 16×16 | 395,8 | 2,37 | 862 |
| 130 | 18×18 | 464,9 | 2,79 | 1.284 |
Cột cuối cho thấy một điều dễ bị bỏ qua khi lập dự trù: nhu cầu theo cân tăng nhanh hơn nhiều so với đường kính trục. Trục 130mm chỉ lớn gấp 2,6 lần trục 50mm, nhưng một hộp chèn của nó ngốn gấp tám lần khối lượng sợi. Kho đặt một cân cho mọi cỡ là cách chắc chắn dẫn tới thừa ở cỡ nhỏ và thiếu ở cỡ lớn.
Số vòng sáu là mức thường gặp ở bơm ly tâm một cấp. Hộp chèn sâu hơn có thể cần bảy hoặc tám vòng, và khi có vòng đèn dẫn nước làm mát thì một trong các vị trí đó bị vòng đèn chiếm chỗ. Đo chiều sâu hốc chèn rồi chia cho cạnh sợi vẫn là cách duy nhất cho ra con số đúng cho từng máy.
Chọn vật liệu dây tết chèn theo môi chất
Ba cột nhiệt độ, pH và hệ số ma sát ở bảng đầu đủ để loại trừ phần lớn phương án sai ngay trên giấy. Bảng dưới rút gọn phép loại trừ đó theo môi chất thường gặp trong nhà máy.
| Môi chất | Loại nên dùng | Loại nên loại | Chỉ tiêu quyết định |
|---|---|---|---|
| Nước sạch, áp dưới 6 bar | Bông vàng | — | pH 6–8 vừa đủ |
| Nước nóng trên 100°C | PTFE trắng, PTFE đen | Bông vàng | Bông vàng dừng ở +100°C |
| Axit hoặc kiềm đậm đặc | PTFE trắng, PTFE đen | Bông vàng, aramid | Chỉ PTFE phủ hết pH 0–14 |
| Dung môi hữu cơ | PTFE trắng, PTFE đen | Bông vàng | pH và độ trơ hoá học |
| Hơi nước bão hoà | PTFE đen, aramid | Bông vàng | Trần nhiệt +280°C |
| Bùn, nước có hạt mài | Aramid, aramid carbon | PTFE trắng | Aramid chịu mài, PTFE mềm |
| Dầu nóng, môi chất truyền nhiệt | Aramid carbon | Bông vàng | Trần nhiệt +300°C |
| Trục quay nhanh, sợ sinh nhiệt | Aramid carbon, PTFE đen | Bông vàng | Ma sát 0,08 và 0,11 |
| Môi chất lạnh sâu dưới −50°C | PTFE trắng, PTFE đen | Bông vàng | Hai loại PTFE xuống −200°C |
Cột “loại nên loại” quan trọng ngang cột “nên dùng”. Bông vàng bị loại khỏi bảy trên chín dòng vì trần nhiệt +100°C và dải pH hẹp 6–8, chứ không phải vì sợi kém. Ngược lại, PTFE trắng bị loại ở dòng bùn mài dù nó phủ toàn dải pH, vì hệ số ma sát 0,18 kèm sợi mềm khiến hạt mài găm vào mặt sợi rồi biến chính vòng chèn thành đá mài cho trục.
Hệ số ma sát và tuổi thọ của trục
Hệ số ma sát trong bảng chạy từ 0,08 tới 0,22, tức là chênh gần ba lần giữa hai đầu. Công sinh nhiệt ở mặt tiếp xúc tỉ lệ thuận với hệ số đó nhân lực ép và tốc độ vòng. Cùng một trục quay 1.450 vòng mỗi phút và cùng lực siết, vòng chèn bông vàng sinh nhiệt gần gấp ba so với vòng aramid carbon.
Nhiệt đó không thoát đi đâu ngoài trục và nước làm mát. Trục nóng thì giãn nở, khe hở hẹp lại, lực ép tăng thêm, nhiệt lại tăng tiếp. Vòng lặp đó kết thúc bằng một rãnh mòn quanh trục ở đúng vị trí hộp chèn, và chi phí tiện lại hoặc bọc lại trục thường lớn hơn nhiều lần tiền sợi. Chọn sợi ma sát thấp cho máy chạy liên tục là cách rẻ nhất để giữ trục.
Con số 0,08 của aramid carbon đến từ phần sợi carbon dẫn nhiệt trong cấu trúc bện, nó vừa giảm ma sát vừa kéo nhiệt ra khỏi vùng tiếp xúc. Đó là lý do loại này được đặt vào các bơm dầu nóng và bơm chạy ba ca dù giá vật tư cao hơn.
Kiểm hàng dây tết chèn khi nhận
Bốn phép kiểm dưới đây làm được ngay tại kho, không cần thiết bị phòng thí nghiệm, và bắt được phần lớn trường hợp giao nhầm loại hoặc nhầm cỡ.
- Đo cạnh sợi bằng thước cặp ở ba vị trí cách nhau ít nhất một mét. Sợi bện đúng cỡ có sai lệch cạnh dưới nửa milimet; lệch hơn thế thì vòng cắt ra sẽ không lấp kín hốc chèn.
- Cân một mét cắt thử rồi đối chiếu với bảng khối lượng phía trên. Sai lệch quá 10% nghĩa là tỉ trọng không khớp, thường do sợi tẩm chất độn khác với phiếu kiểm.
- Bóp chéo một đoạn sợi. Sợi bện vuông đúng cách giữ nguyên hình vuông khi thôi tay; sợi bện lỏng sẽ bẹp và không trở lại.
- Đối chiếu số phiếu kiểm in trên nhãn cuộn với bảng chỉ tiêu. Năm loại trong lô này mang năm số hiệu khác nhau từ VT-20260811-337 đến VT-20260811-345.
Những sai số hay gặp khi cân dây tết chèn
Bảng khối lượng tính trên sợi khô và tiết diện danh nghĩa, nên vẫn còn ba nguồn sai lệch cần biết trước khi lấy nó làm căn cứ nghiệm thu.
Thứ nhất là chất bôi trơn tẩm sẵn. Nhiều loại sợi được tẩm dầu hoặc mỡ silicone để dễ lắp, phần tẩm này chiếm vài phần trăm khối lượng và không nằm trong tỉ trọng của phiếu kiểm. Cân thực tế thường nhỉnh hơn bảng một chút.
Thứ hai là độ ẩm. Sợi gốc bông hút ẩm rõ rệt, một cuộn để ngoài kho ẩm vài tuần có thể nặng thêm vài phần trăm. Hai loại PTFE gần như không đổi vì bản thân vật liệu không hút nước.
Thứ ba là lõi cuộn. Cân cả cuộn kèm lõi nhựa rồi trừ đi khối lượng lõi ghi trên nhãn là cách nhanh nhưng cộng dồn sai số của chính con số ghi trên nhãn. Với cuộn nhỏ dưới hai cân, phần lõi chiếm tỉ lệ đáng kể và nên cân lõi rỗng sau khi dùng hết để hiệu chỉnh lại.
Đặt dây tết chèn theo cỡ và vật liệu
Bốn thông tin sau đủ để chốt đơn mà không phải hỏi lại: đường kính trục, chiều sâu hốc chèn, môi chất kèm nhiệt độ làm việc, và số hộp chèn cần thay. Từ đó suy ra cỡ sợi, số vòng, chiều dài và cuối cùng là khối lượng theo bảng phía trên.
Cắt lẻ theo mét áp dụng cho cả năm loại. Với đơn thay định kỳ nhiều máy cùng cỡ, đặt nguyên cuộn thường gọn hơn vì tránh được phần hao ở mỗi đầu cắt. Bốn loại đang có sẵn theo lô này gồm sợi PTFE trắng, sợi PTFE đen, sợi aramid và sợi aramid carbon.
Câu hỏi thường gặp về dây tết chèn
Một cân dây tết chèn 10×10mm được bao nhiêu mét?
Tuỳ vật liệu. Bông vàng cho 7,8 mét, aramid 7,1 mét, PTFE trắng 7,0 mét, PTFE đen 6,7 mét và aramid carbon 6,1 mét. Chênh lệch giữa loại nhẹ nhất và nặng nhất ở cỡ này là 1,7 mét mỗi cân.
Vì sao khối lượng dây tết chèn cân được lệch với bảng tra?
Ba nguyên nhân thường gặp là chất bôi trơn tẩm sẵn, độ ẩm hút vào với sợi gốc bông, và khối lượng lõi cuộn khi cân cả cuộn. Lệch dưới 10% nằm trong khoảng bình thường; lệch hơn thế thì nên cắt một mét cân riêng để đối chiếu.
Loại dây tết chèn nào chịu được axit đậm đặc?
Hai loại PTFE, trắng và đen, có dải pH 0–14 nên phủ hết cả axit lẫn kiềm đậm đặc. Aramid dừng ở dải 2–13 và bông vàng chỉ 6–8.
Cỡ 6×6mm có ở loại aramid không?
Phiếu kiểm lô MXD-110 liệt kê aramid ở các cỡ 4×4 rồi nhảy thẳng lên 8×8, không có 6×6. Aramid carbon bắt đầu từ 8×8. Hai loại PTFE và bông vàng đủ dải từ 4×4 đến 20×20mm.
Dây tết chèn nào có hệ số ma sát thấp nhất?
Aramid carbon với 0,08, tiếp theo là PTFE đen 0,11 và aramid 0,13. Bông vàng cao nhất ở 0,22, gần gấp ba lần aramid carbon.
Bốn loại sợi trong lô MXD-110 đang có sẵn theo mét và theo cuộn: